Thông tin Y khoa: Phôi (Tên Tiếng Anh: Embryo)
Là thai còn trong bụng mẹ trong vòng tám tuần đầu phát triển sau khi thụ thai.
Trong phần thời gian còn lại của quá trình thai, được gọi là thai.
Sự phát triển của phôi (xem minh họa) bị chi phối bởi các gen di truyền từ bố mẹ, và các yếu tố như chế độ ăn uống của người mẹ và bất kỳ loại thuốc nào được dùng trong khi có thai.
Hai tuần đầu
Phôi phát triển từ một trứng đã thụ tinh (xem Fertilization - Sự thụ tinh). Bắt đầu là một tế bào với kích thước đủ lớn để thấy được bằng mắt thường. Khi trứng đã thụ tinh này di chuyển dọc theo vòi trứng tới tử cung, tế bào trứng phân chia thành hai tế bào. Hai tế bào mới lại phân chia thành bốn tế bào. Các phân chia tế bào này vẫn tiếp tục xảy ra, mỗi lần phân chia lại nhân đôi số tế bào. Các tế bào trên tạo thành một khối cầu mà trung tâm khối cầu phát sinh một hốc rỗng. Trong khối cầu, các tế bào tạo thành hai nhóm rất khác nhau, một nhóm tạo thành các niêm mạc bên trong hình cầu, một nhóm bành trướng thành bản thân phôi.
Vào khoảng ngày thứ sáu, khối cầu tế bào bắt đầu bám vào lớp niêm mạc tử cung và sau đó ăn sâu vào lớp niêm mạc đó. Ở chỗ bám này, lớp tế bào bên ngoài nhận được chất dinh dưỡng từ máu mẹ. Phần lớp ngoài đó, sau này sẽ phát triển thành nhau thai.
Trong khối tế bào có hai túi hình thành bên nhau. Giữa hai túi hình thành một đĩa phẳng, gồm các lớp tế bào, từ đó, tất cả các tổ chức, cơ quan của thai nhi sẽ hình thành. Màng ối phát triển bao quanh phôi đang lớn lên dần.
Tuần thứ ba
Ngày đầu của tuần thứ ba, đĩa tế bào bắt đầu có hình quả lê. Đầu của phôi hình thành ở đầu tròn, phần cuối cột sống hình thành ở đầu nhọn. Một nhóm tế bào phát triển dọc theo lưng phôi tạo thành dây sống, một dải tế bào là cơ sở cho cột sống. Từ thời gian này trở đi, phôi có hai nửa, có thể nhận ra, phát triển một cách đối xứng ở một mức độ nào đó. Tiếp đó, dây sống phát triển thành rãnh và các mép phát triển hướng vào nhau trước khi dính với nhau thành một ống thần kinh. Sau đó, ống thần kinh sẽ phát triển thành não và tủy sống.
Tuần thứ tư
Trong tuần thứ tư đã có thể nhận ra phôi giống như một động vật có vú. Phần lưng phát triển nhanh hơn phía trước, làm cho phôi có hình chữ C, đã thấy rõ được đuôi. Trong phôi, các nụ tổ chức hình thành, các nụ đó sau này sẽ phát triển thành phổi, tuy, gan và túi mật.
Ống thần kinh chạy tới tận đầu phôi, tại đây, khe rộng đã thấy rõ, cuối cùng sẽ phát triển thành não. Tai phát triển trước tiên, có dạng như cái lỗ. Đôi mắt thô sơ xuất hiện dưới dạng những cái cuống. Lớp bên ngoài bắt đầu tạo thành các nụ chi và các cung mang (các khe tổ chức), sau này sẽ trở thành hàm và các cơ cấu khác ở cổ.
Các nhú lồi xếp thành cặp xuất hiện ở hai bên ống thần kinh, sẽ trở thành sụn xương và các cơ của lưng. Mặt trước của phôi, ngay bên dưới đầu, tim thô sơ xuất hiện dưới dạng một ống thẳng. Khi các cung mang xuất hiện, tim bị đẩy xuống dưới vào lồng ngực. Chính trong thời kỳ này, phôi dễ bị khuyết tật bẩm sinh nhất gây ra bởi sự di truyền bất thường hoặc do các yếu tố bên ngoài (xem Birth defects - Các khuyết tật bẩm sinh).
Tuần thứ năm
Hai tai ngoài đã thấy được; các lỗ chỉ ra vị trí của mũi đang phát triển. Hàm trên và hàm dưới hình thành, các nụ chi vươn dài ra, trở nên mỏng ở đầu mút, nơi sẽ xuất hiện bàn tay và bàn chân.
Hai khe tổ chức gặp nhau ở phía trước của phôi và dính lại với nhau tạo thành thành trước của ngực và bụng. Dây rốn xuất hiện.
Từ tuần thứ sáu tới tuần thứ tám
Mặt đã có thể nhận ra là mặt người. Cổ hình thành. Thân ít cong hơn. Đầu thẳng hơn. Đuôi nằm giữa hai mông biến mất. Các chi đã có khớp. Các ngón tay, ngón chân xuất hiện.
Sau tám tuần, phôi dài khoảng 2,5cm. Đa số các cơ quan bên trong đã hình thành. Tất cả các đặc điểm bên ngoài đã xuất hiện.
Tài liệu và thông tin trong bài viết này được trích dẫn từ cuốn Từ điển Bách khoa Y học Anh Việt A-Z mà tác giả là một nhóm nhà khoa học do Giáo sư Ngô Gia Hy làm chủ biên.
Thông tin Y khoa: Chấn thương sinh đẻ (Tên Tiếng Anh: Birth injury)
Tin khác
Thông tin Y khoa: Vật nghẽn mạch (Tên Tiếng Anh: Embolus)
Là một mảnh vật chất di chuyển trong dòng tuần hoàn và gây tắc một động mạch.
Thông tin Y khoa: Gây nghẽn mạch (Tên Tiếng Anh: Embolization)
Còn gọi là nghẽn mạch liệu pháp.
Thông tin Y khoa: Nghẽn mạch, thuyên tắc (Tên Tiếng Anh: Embolism)
Tắc nghẽn động mạch do một mảnh vật chất di chuyển trong dòng máu.
Thông tin Y khoa: Cắt bỏ thuyên tắc (Tên Tiếng Anh: Embolectomy)
Loại bỏ bằng ngoại khoa vật gây nghẽn mạch (một mảnh vật chất cuốn theo dòng máu) làm tắc mạch máu.
Thông tin Y khoa: Test ELISA, thử nghiệm hấp phụ miễn dịch liên kết men (Tên Tiếng Anh: ELISA test)
Là một xét nghiệm máu được dùng phổ biến trong chẩn đoán các bệnh nhiễm trùng.