Thông tin Y khoa: Gây nghẽn mạch (Tên Tiếng Anh: Embolization)
Còn gọi là nghẽn mạch liệu pháp.
Bệnh gan có nguyên nhân do tổn thương các tế bào gan. Các dải xơ làm thay đổi cấu trúc bình thường của gan.
Các tế bào sống sót phân chia tạo thành nốt tái sinh. Vì các nốt này không được cung cấp máu đầy đủ, chức năng của gan dần dần bị giảm bớt-ví dụ: gan không còn đảm bảo chức năng loại bỏ các chất độc từ máu (xem Liver failure-Suy gan). Thêm nữa, sự phá hủy và xơ hóa dẫn đến tăng áp lực tĩnh mạch cửa, tình trạng này gây nên những biến chứng nguy hiểm.
Tại Liên hiệp Anh, có khoảng 4.000 trường hợp xơ gan mỗi năm và khoảng 2.500 trường hợp tử vong do bệnh gan mạn tính và xơ gan.
Uống nhiều rượu là nguyên nhân chủ yếu gây xơ gan ở các nước phát triển. Nguy cơ liên quan đến lượng rượu được uống hơn là loại rượu được uống, phụ nữ dễ mắc bệnh hơn nam giới (xem Alcohol-Rượu).
Bệnh viêm gan có thể dẫn đến xơ gan. Viêm gan mạn tính do virus (đặc biệt là viêm gan virus B và C) là nguyên nhân chủ yếu của xơ gan tại Trung Đông, Viễn Đông và châu Phi (xem Hepatitis, viral-Viêm gan virus). Một loại viêm gan là viêm gan mạn tính hoạt động thường xuất hiện trước khi xơ gan phát triển (xem Hepatitis, chronic active- Viêm gan mạn tính hoạt động). Viêm gan mạn tính hoạt động tự miễn dịch, với những thay đổi tương tự ở gan nhưng không có sự nhiễm virus rõ ràng xảy ra ở các nước phát triển.
Nguyên nhân ít thấy của xơ gan bao gồm bệnh và các khuyết tật của ống mật gây xơ gan mật tiên phát hoặc thứ phát; nhiễm sắc tố sắt mô, bệnh Wilson (tăng khả năng hấp thu đồng); xơ hóa nang (ống mật bị tắc do nước nhây) và "xơ gan tim" (suy tim dẫn đến xung huyết kéo dài trong gan).
Xơ gan nhiều khi không có triệu chứng; bệnh không được phát hiện cho đến khi được khám sức khỏe hoặc xét nghiệm máu vì những lý do khác.
Triệu chứng phổ biến là vàng da, phù, lú lẫn, nôn ra máu. Khám có thể phát hiện gan và lách to.
Với nam giới, to vú và rụng tóc được cho là do những bất thường của sự cân bằng hormon sinh dục có nguyên nhân do suy gan liên quan đến xơ gan.
Xơ gan sẽ dẫn đến nhiều loại biến chứng khác nhau và đây có thể là dấu hiệu đầu tiên của bệnh. Cổ trướng (tràn dịch màng bụng) xuất hiện do lượng protein thấp trong máu và áp suất máu cao ở tĩnh mạch tới gan. Áp suất máu cao tại các tĩnh mạch này cũng dẫn đến giãn tĩnh mạch thực quản gây vỡ tĩnh mạch, dẫn đến nôn ra máu. Lú lẫn và hôn mê là hậu quả của sự tích lũy các chất độc đối với não mà đối với người có chức năng gan bình thường, các chất này được xử lý và khử độc. Ung thư gan là loại ung thư nguyên phát của tế bào gan và làm nặng thêm bất cứ loại xơ gan nào.
Mặc dù có những triệu chứng và dấu hiệu xơ gan, hoặc những kết quả kiểm tra chức năng gan có thể gợi ý xơ gan, chẩn đoán thường được tiến hành bằng sinh thiết gan, cách này chỉ ra những nguyên nhân bệnh. Xét nghiệm máu đặc biệt và chụp X quang đường dẫn mật có thể giúp phát hiện những nguyên nhân ít gặp.
Xơ gan được điều trị bằng cách làm chậm quá trình tổn thương tế bào gan.
Kiêng rượu đem lại những cải thiện đáng kể. Một số trường hợp, có điều trị đặc hiệu đối với nguyên nhân.
Cổ trướng được điều trị bằng thuốc lợi tiểu và đôi khi bằng cách giảm lượng muối ăn vào. Giãn tĩnh mạch thực quản điều trị bằng cách tiêm dung dịch gây xơ thông qua ống soi dạ dày (xem Gastroscopy-Soi dạ dày). Giảm áp suất trong tĩnh mạch bằng cách sử dụng cách mổ bắc cầu để làm đổi hướng máu được cung cấp cho những tĩnh mạch bị ứ máu, bị giãn.
Lú lẫn thường được cải thiện bằng cách giảm bớt lượng chất thải độc và các chất độc khác lưu thông trong máu.
Cách này gồm cả việc giảm lượng protein trong chế độ ăn hàng ngày và cho dùng thuốc kháng sinh để giảm lượng vi khuẩn trong ruột. Tuy nhiên, trong phần lớn trường hợp, ghép gan là cách điều trị lâu dài.
Tài liệu và thông tin trong bài viết này được trích dẫn từ cuốn Từ điển Bách khoa Y học Anh Việt A-Z mà tác giả là một nhóm nhà khoa học do Giáo sư Ngô Gia Hy làm chủ biên.
Còn gọi là nghẽn mạch liệu pháp.
Tắc nghẽn động mạch do một mảnh vật chất di chuyển trong dòng máu.
Loại bỏ bằng ngoại khoa vật gây nghẽn mạch (một mảnh vật chất cuốn theo dòng máu) làm tắc mạch máu.
Là một xét nghiệm máu được dùng phổ biến trong chẩn đoán các bệnh nhiễm trùng.
Bệnh gặp ở vùng nhiệt đới, đặc trưng là sưng to chân, tay, bìu dái với biểu bì dày lên, sắm màu giống như da voi (dày như da voi).
Sự chuyển động của các tiểu phân tích điện phân tán lơ lửng trong một dung dịch keo dưới ảnh hưởng của dòng điện.