Thông tin Y khoa: Hội chứng não thực thể (Tên Tiếng Anh: Brain syndrome)
Rối loạn thể chất nhận thức, trí năng hoặc chức năng tâm thần, ngược với bệnh tâm thần.
Bệnh của hệ thần kinh đặc trưng bằng những cử động chậm, vô thức, thường nhất ở đầu, mặt, cổ và các chi.
Cử động thường gồm mặt nhăn nhó với những động tác vặn vẹo quanh miệng và môi. Thường người bệnh khó giữ thăng bằng và đi lại. Một số trường hợp cơ nhão bất thường còn những trường hợp khác lại co cứng.
Rất hay gặp múa vờn kết hợp với múa giật và được gọi là múa giật - múa vờn. Cả hai trường hợp là do tổn thương hạch đáy, nhóm tế bào thần kinh sâu trong não liên quan với kiểm soát cử động. Các nguyên nhân gồm tổn thương não trước hoặc chu sinh, viêm não, các rối loạn thoái hóa như bệnh Huntington, hoặc dùng một số thuốc như phenothiazin hoặc levodopa. Nếu nguyên nhân do thuốc, ngừng thuốc sẽ hết các cử động bất thường.
Tài liệu và thông tin trong bài viết này được trích dẫn từ cuốn Từ điển Bách khoa Y học Anh Việt A-Z mà tác giả là một nhóm nhà khoa học do Giáo sư Ngô Gia Hy làm chủ biên.
Rối loạn thể chất nhận thức, trí năng hoặc chức năng tâm thần, ngược với bệnh tâm thần.
Sự chảy máu trong hoặc quanh não hoặc do tổn thương, hoặc do vỡ tự phát mạch máu não.
Chết não là sự ngừng các chức năng của toàn bộ não không phục hồi được, kể cả thân não.
Các tế bào thần kinh và các đường dẫn truyền trong não bị thoái hóa hay chết. Tổn thương có thể khu trú ở những vùng đặc biệt của não, gây ra những triệu chứng chức năng đặc trưng của vùng đó như mất phối hợp vận động hay khó nói, hoặc tổn thương lan tỏa gây tàn phế nặng về tinh thần hay cơ thể.
Tình trạng tụ mủ, bao quanh bởi các mô bị viêm ở trong hay bề mặt não.
Một nhóm dây thần kinh đi từ phần dưới của cột sống cổ và phần trên của cột sống ngực xuống hai cánh tay. Các dây thần kinh chia thành dây thần kinh cơ bì, nách, giữa, trụ và quay để kiểm soát các cơ và nhận cảm giác từ bàn tay và tay.